GIÁO PHẬN VINH

   TIỀN CHỦNG VIỆN XÃ ĐOÀI

NỘI QUY

 LỜI MỞ ĐẦU

  1. Cả ba giai đoạn đào tạo một Linh mục toàn vẹn (trước đại chủng viện, tại đại chủng viện và sau đại chủng viện) đều chung một mục đích là giúp ứng sinh được từng bước nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu Mục Tử. Nhờ vậy, họ có thể loan báo Tin Mừng cho thế giới và xây dựng Giáo hội với ba nhiệm vụ: rao giảng, thánh hóa và lãnh đạo.

Tiền chủng viện là một giai đoạn thiết yếu của việc đào tạo Linh mục trong bối cảnh chung của xã hội, phù hợp với điều kiện thực tế của giáo phận Vinh.

2. Theo chỉ dẫn của Giáo hội tại Điều 243 Bộ giáo luật 1983, theo Định hướng và chỉ dẫn đào tạo Linh mục 2012 của HĐGM Việt Nam, Tiền Chủng Viện Xã Đoài soạn thảo bản nội duy này nhằm giúp Ban Đào Tạo, Tiền Chủng Sinh và những người có liên hệ, hoàn thành trách vụ quan trọng mà giáo phận trao phó.

3. Tiền Chủng Viện Xã Đoài đặc biệt nhấn mạnh đến đời sống tu đức, chiều kích nhân bản, động lực ơn gọi và những khả năng thích hợp với đời sống Linh mục.

Chương Một

ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO[1]

 

4. Để có thể đạt được một mức độ cần thiết về đời sống tu đức và chiều kích nhân bản cho tiền chủng sinh, chương trình đào tạo tại Tiền chủng viện Xã Đoài từng bước xoay quanh hai đích điểm cụ thể là đào tạo về động lực ơn gọi và những khả năng thích hợp với đời sống linh mục.

I. Về động lực ơn gọi

5. Tiền chủng viện là môi trường tốt giúp tiền chủng sinh tiếp tục khám phá và thanh luyện động lực ơn gọi của mình. Đây là thời kỳ cao điểm để khám phá lời mời gọi của Chúa, từng bước cảm nhận được tình yêu Chúa qua lời mời gọi ấy và có một chọn lựa quảng đại và dứt khoát.

6. Để làm được điều đó, trước hết, sau khi đã tập luyện đến gặp gỡ Chúa cụ thể qua những việc đạo đức căn bản, trong giai đoạn này, với những hỗ trợ của một chương trình đạo đức rõ ràng của cộng đoàn, tiền chủng sinh được hướng dẫn để đi sâu vào tương quan gặp gỡ Chúa, cảm nhận được niềm vui và tình yêu của Chúa, Đấng yêu thương mời gọi họ vào ơn gọi linh mục, đặc biệt qua các giờ cầu nguyện, tĩnh tâm, linh thao, nhất là qua thái độ lắng nghe và đáp trả liên lỉ trong cuộc sống hàng ngày.

7. Thứ đến, tiền chủng sinh được mời gọi hiệp thông với cộng đoàn anh em cùng theo đuổi ý tưởng linh mục. Tình huynh đệ do bí tích cần được vun trồng một cách cụ thể trong cộng đoàn dự tu này.

8. Sau nữa, từ việc cảm nhận được tình yêu Chúa với lời mời gọi của Ngài, tiền chủng sinh sẽ quảng đại đáp trả qua việc dứt khoát theo Chúa bằng cách sống ba lời khuyên Phúc Âm: khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục; từng bước tập luyện để trở thành một linh mục như như long Chúa mong ước và dân Chúa đang đợi trông.

II. Về khả năng thích hợp với đời sống linh mục

9. Đây là giai đoạn quan trong đặt nền móng cho các chiều kích đào tạo của một ứng sinh linh mục: đào tạo nhân bản, đào tạo thiêng liêng, đào tạo trí thức và đào tạo mục vụ.

Về đào tạo nhân bản: trưởng thành tình cảm, trưởng thành về sử dụng tự do và huấn luyện lương tâm luân lý.

10. Trong bầu khí chung của cộng đoàn, tiền chủng sinh được mời gọi làm chủ các đam mê (vui, buồn, sợ, giận, yêu, ghét, ham muốn) trong các sinh hoạt đạo đức, học tập, thể thao và công tác khác; trưởng thành các tương quan cụ thể với bề trên (lễ phép, kính trọng, cởi mở), với anh em (hòa đồng, quan tâm, chia sẻ, cộng tác và bác ái), với người khác (lịch sự, chừng mực và đúng tương quan).

11. Riêng về đời sống độc thân khiết tịnh, tiền chủng sinh được hướng dẫn để mỗi ngày sự chọn lựa dâng hiến ấy được trọn vẹn trong bình an nội tâm, tránh những lệch lạc phái tính có thể xẩy ra trong đời sống cộng đoàn.

12. Việc đào tạo tiền chủng sinh sử dụng tự do được thể hiện một cách cụ thể trong đời sống kỷ luật của cộng đoàn. Tiền chủng sinh không những coi kỷ luật như một phương thế giúp bản thân đạt được một tinh thần tự chủ, mà còn là một trợ lực vững chắc của đời sống bác ái, biết quan tâm đến người khác, vượt qua những ích kỷ cá nhân.

13. Việc huấn luyện lương tâm luân lý của tiền chủng sinh là điều rất cần thiết để họ có một lương tâm ngay lành, hầu có “thói quen lắng nghe tiếng Chúa ngỏ với mình trong lòng và cần gắn bó vào thánh ý Người với tình yêu và lòng kiên quyết.” (Pastores Dabor Vobis, số 44) . Tiền chủng sinh được đào tạo để biến đổi từ cách suy nghĩ, phán đoán, hành động theo những “giá trị trần thế” (lợi nhuận, hưởng thụ…) sang cách suy nghĩ, phán đoán, hành động theo những “giá trị Phúc Âm” (bác ái vô vị lợi, hy sinh phục vụ…). Cụ thể và cao điểm là tinh thần hy sinh phục vụ trong cộng đoàn như một quyết tâm theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá.

Về việc đào tạo thiêng liêng:

14. Có thể nói Tiền chủng viện là khởi điểm của đời sống dâng hiến theo ba lời khuyên Phúc Âm: khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục, là khởi sự “tập bén rễ sâu trong kinh nghiệm thập giá” (Pastores Dabor Vobis, số 45). Đây là giai đoạn tập dẹp bỏ những cản trở ơn gọi linh mục đến từ bên ngoài nhờ sự hỗ trợ tích cực của việc linh hướng, để từng bước tăng tưởng về đời sống thiêng liêng.

15. Với những giờ giấc cố định cho các việc đạo đức, tiền chủng sinh được đào luyện để hướng đến “phẩm” của việc thực hành đạo đức, không chỉ thực hành như một thói quen, mà là với tâm tình yêu mến, muốn gặp gỡ Chúa Giêsu để phát triển mối tương quan thân tình với Ngài. Họ phải được hướng dẫn để xây dựng một đời sống đức tin, đức cậy và đức mến, khởi đi từ lòng khao khát tìm Chúa, gặp Chúa và đi theo Chúa giữa lòng Giáo hội.

16. Để đào tạo đời sống cầu nguyện, tiền chủng sinh cần tập suy niệm Lời Chúa mỗi ngày. Lời Chúa sẽ làm cho họ gặp gỡ chính Thiên Chúa, và gặp gỡ Chúa Kitô Tôn Sư là Ngôi Lời của Thiên Chúa, là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống. Cần tập ý thức đọc và suy niệm Lời Chúa với tâm tình cầu nguyện và lòng khiêm tốn lắng nghe. Ánh sáng và sức mạnh của Lời Chúa giúp con người khám phá, hiểu biết, quý chuộng và đi theo ơn gọi của mình, nhờ đó cuộc sống tìm được ý nghĩa căn bản và tròn đầy.

 

Về việc đào tạo trí thức:

17. Tuy không là trọng tâm của giai đoạn tiền chủng viện, nhưng đào tạo tri thức là một phần quan trọng chuẩn bị cần thiết cho giai đoạn đào tạo tại đại chủng viện. Những môn học của giai đoạn này có thể được tóm tắt trong hai phần sau: thứ nhất là kiến thức tự nhiên, gồm: phương pháp nghiên cứu, tiếng việt, giáo dục nhân bản và ngoại nữ (Anh ngữ hay Pháp ngữ và La ngữ); thứ hai là kiến thức tôn giáo, gồm Giáo lý tổng hợp, ơn gọi linh mục, cử hành phụng vụ và thực hành các việc đạo đức căn bản.

Về việc đào tạo mục vụ:

18. Tiền chủng viện mời gọi ứng sinh bắt đầu học hỏi và thực hành một số hoạt động mục vụ dựa trên ba yếu tố căn bản của việc đào tạo mục vụ: yếu tố nền tảng (những tâm tình, thái độ cư xử như Chúa Giêsu mục tử); yếu tố kỷ năng (kỷ năng mục vụ về rao giảng, thánh hóa và lãnh đạo cộng đoàn); yếu tố tương quan (khéo léo và chính xác trong thực hành những kỷ năng mục vụ).

 

Chương Hai

THỜI GIAN VÀ TỔ CHỨC TIỀN CHỦNG VIỆN

 

19. Thời gian đào tạo của Tiền chủng viện là 02 năm, chia làm 04 học kỳ và hai kỳ hè. Lịch học cụ thể do ban đào tạo ấn định hằng năm tùy thuộc điều kiện thực tế.

20. Theo Bản Định hướng và Chỉ dẫn việc Đào tạo Linh mục của Hội đồng Giám Mục Việt nam, số 167-185, việc tổ chức Tiền chủng viện được thực hiện như sau: Ban giám đốc tiền chủng viện gồm: Cha Giám đốc, Cha Phó Giám đốc. Ban đào tạo tiền chủng viện gồm ban giám đốc và những người tham gia giảng huấn tại Tiền chủng viện.

21. Cha Giám đốc cùng với cha Phó Giám đốc lo tổ chức, định hướng, điều phối, kiểm tra chung. Đề xuất, đôn đốc, kiểm soát và điều chỉnh đường hướng đào tạo chung cho cả tiền chủng viện; Cha Giám đốc phải gặp từng tiền chủng sinh để có thể đồng hành tốt nhất.

22. Cha Linh Hướng phụ trách đường hướng tâm linh chung cho tiền chủng viện và hướng dẫn từng tiền chủng sinh về tâm linh. Cha giải tội thường nhiệm là cha linh hướng. Cha giải tội đặc nhiệm do Đức Giám mục chỉ định và các Cha giúp tĩnh tâm và linh thao.

23. Ban đại diện tiền chủng sinh gồm một trưởng ban và hai phó ban do tiền chủng sinh bầu lên với sự phê chuẩn của ban giám đốc. Ban đại diện có nhiệm vụ điều hành và đề đạt nguyện vọng của anh em lên ban giám đốc và chuyển đạt ý hướng của ban giám đốc cho anh em để triển khai thực hiện. Vì lợi ích của cộng đoàn, tiền chủng sinh được chia làm nhiều tổ và nhiều ban đặc vụ khác nhau theo nhu cầu và khả năng của từng người.

Chương Ba

NỘI QUY TIỀN CHỦNG VIỆN

 

24. Để thực hiện được những định hướng và mục đích của việc đào tạo, chương này được xây dựng gồm các mục: Thời biểu, Sự thinh lặng, Nơi chốn, Việc liên lạc với bên ngoài, Sức khỏe và Các phương tiện học tập. Tiền chủng sinh được mời gọi giữ luật theo tinh thần yêu mến, “con giữ luật để luật giữ con”, không quá cứng nhắc áp dụng cách máy móc và nệ luật.

 

I. Thời biểu

25. Đầu năm học, ban đào tạo thống nhất kế hoạch của năm đào tạo và công bố lịch sự kiện cho cả năm học, kỳ học và từng tháng, đồng thời giám sát việc thực hiện những kế hoạch đã vạch ra trong lịch đó. Khi có thay đổi, phải được sự chấp thuận của ban giám đốc Tiền chủng viện.

26. Dựa vào sự phân bổ của các môn học theo chu kỳ của tiến trình đào tạo, ban đào tạo quy định lịch học cho từng học kỳ, nhất là từng tuần và từng ngày học. Riêng thời khắc của ngày sống, lịch phải chi tiết từng công việc theo quy tắc giờ nào việc nấy, để giúp tiền chủng sinh từng bước làm quen với nhịp sống phụng vụ và quy tắc của đời sống cộng đoàn. Mỗi tiền chủng sinh phải có một lịch cá nhân cho riêng mình dựa theo lịch chung của Tiền chủng viện. Lịch này phải trình cha giám đốc vào đầu kỳ học.

 

II. Sự thinh lặng

27. Bầu khí thanh tịnh là nguồn trợ lực cho đời sống hiệp thông, cần thiết để cảm nhận sự hiện diện của Chúa và làm cho sự hiện diện đó thực sự thu hút mình (x. Pastores Dabor Vobis, số 47). Do đó, tiền chủng sinh có bổn phận tôn trọng và duy trì bầu khí đó, đặc biệt ở những nơi dành cho cầu nguyện và học tập. Khi có việc rất cần thiết mới được nói, nhưng phải cố gắng nói nhỏ và gọn, hoặc đi đến một nơi khác mà nói để khỏi làm mất sự thanh tịnh của người khác. Khi thiếu vắng bầu khí đó, mỗi tiền chủng sinh cùng những người hữu trách có nhiệm vụ nhắc bảo nhau trong tình liên đới huynh đệ.

28. Những nơi thanh tịnh là: Nhà nguyện, phòng ở, hành lang khu vực phòng ở và cầu thang dẫn lên khu vực phòng ở và các nơi khác.

29. Những lúc thanh tịnh là: giờ làm việc đạo đức, giờ học, liền trước các giờ cơm, giờ nghỉ trưa và tối. Đặc biệt từ 8 giờ tối đến giờ ăn sáng hôm sau là thời gian thinh lặng thánh, thời gian chiêm niệm.

III. Nơi chốn

30. Phòng ăn, mọi người quan tâm góp phần bảo quản phòng ăn sạch sẽ, trật tự và tạo điều kiện dễ dàng cho công tác dọn dẹp vệ sinh. Vì lý do sức khoẻ, có thể trình với Cha giám đốc để ăn chế độ riêng. Khi có lý do chính đáng cần tổ chức liên hoan nhóm, tổ hay ban nghành, tiền chủng sinh phải xin phép Cha Giám đốc.

31. Phòng riêng là nơi suy nghĩ, cầu nguyện, làm việc riêng và ngủ nghỉ, nên thường xuyên cần bầu khí thanh tịnh, trật tự và vệ sinh. Mọi người cần quan tâm tôn trọng bầu khí ấy. Vô tình hay cố ý phá vỡ bầu khí ấy đồng nghĩa với thiếu ý thức, thiếu tự trọng và thiếu tôn trọng anh em.

32. Tiền chủng sinh không được vào phòng riêng của người khác, trừ khi có việc cần thì được nhưng chỉ nói nhỏ nhẹ và ngắn gọn; không được tụ tập ăn uống trong phòng riêng; không nấu nướng trong phòng riêng; chỉ được đánh đàn trong phòng riêng trong giờ chơi buổi chiều; nếu cần dùng radio để nghe tin tức hoặc máy cassette để học ngoại ngữ, phải dùng headphone. Để khỏi mất giờ và phân tâm, tiền chủng sinh không được dùng những thiết bị giải trí riêng như tivi, máy chơi games v.v…

 

IV. Việc liên lạc với bên ngoài

33. Nhà khách cần được bảo quản trật tự vệ sinh và thanh lịch. Tiền chủng sinh chỉ được tiếp khách nơi nhà khách. Khi tiếp khách, phải ăn mặc lịch sự.

34. Giờ thông thường để tiếp khách là: Chúa nhật từ 7g30 – 18g00: Ngày thường: 11g30 – 12g00 và 16g15 – 18g00. Khi có lý do chính đáng cần tiếp khách vào giờ khác, phải xin phép cha giám đốc, và chỉ tiếp ngắn gọn.

35. Giờ được gọi điện thoại giống như giờ được tiếp khách, và từ sau cơm tối đến giờ kinh tối. Khi cho người quen số điện thoại Tiền chủng viện, tiền chủng sinh nên thông báo cho họ biết giờ được gọi và nghe điện thoại. Khi nói chuyện qua điện thoại, cần lịch sự, ngắn gọn và thận trọng trong lời nói. Nếu gọi ra ngoài, nhớ thanh toán tiền một cách công bằng.

36. Tiền chủng sinh không được dùng điện thoại di động và máy nhắn tin trong thời gian học ở Tiền chủng viện. Trường hợp ngoại lệ do cha giám đốc quyết định.

37. Khi có việc cần rời tiền chủng viện, tiền chủng sinh phải xin phép cha giám đốc. Khi trở về, phải báo lại cho cha giám đốc biết, kể cả những việc phát sinh.

 

V. Bảo vệ sức khỏe

38. Mỗi tiền chủng sinh phải biết cách giữ gìn và tăng cường sức khỏe của mình qua việc tự tạo cho mình một chế độ ăn uống, ngủ nghỉ điều hoà và tiết độ, qua việc chuyên cần tập luyện thể dục, năng chơi thể thao, qua việc thực hành những biện pháp phòng bệnh. Khi cần sự giúp đỡ, liên hệ với ban y tế của tiền chủng viện. Trường hợp cần thiết, phải báo cho cha giám đốc để được hướng dẫn và giúp đỡ.

39. Lao động và thể thao là những hoạt động hỗ trợ chương trình đào tạo, nhằm không chỉ tăng cường sức khỏe mà còn cải thiện môi trường sống của cộng đồng. Tiền chủng sinh buộc phải tham gia giờ lao động và giờ thể thao; không được ở trong phòng hoặc làm việc riêng trong những giờ đó, trừ khi có lý do chính đáng. Mọi người phải tiết kiệm và bảo vệ tài sản chung, nhất là dụng cụ lao động.

 

VI. Phương tiện học tập

40. Tiền chủng sinh cố gắng trưởng thành trong việc sử dụng tiền của, sở hữu cá nhân cũng như tập thể. Trong mọi trường hợp, họ được mời gọi tập sống khó nghèo và giản dị, phù hợp với bối cảnh chung của gia đình và xã hội. Tiền chủng sinh không được nhận người đỡ đầu cho mình hay nhận đỡ đầu cho cho bất cứ ai dưới mọi hình thức.

41. Tiền chủng sinh được sử dụng máy vi tính riêng để hỗ trợ việc học, nhận và gửi e-mail, truy cập những trang mạng đã được cho phép; không sử dụng máy vi tính vào những hoạt động trái mục đích học tập và nghiên cứu.

42. Tất cả các máy vi tính cá nhân được để trong thư viện tiền chủng viện. Sử dụng máy vi tính theo nội quy của phòng vi tính. Những ngoại lệ khác, cần có ý kiến của cha giám đốc.

 

VII. Thư viện

43. Tiền chủng sinh phải chấp hành nội quy thư viện, mượn sách, giữ gìn sách, trả sách đúng thời hạn.

 

VIII. Vấn đề xử lý kỷ luật

44. Tùy theo mức độ nặng nhẹ, ban giám đốc sẽ xem xét và áp dụng hình thức kỷ luật cho tiền chủng sinh vi phạm kỷ luật. Trong đó, có cả việc hướng dẫn ứng sinh chọn lựa con đường khác với việc theo đuổi lý tưởng linh mục căn cứ hành vi sai lỗi.

 

LỜI KẾT

45. Bản nội quy này gồm 46 số, chia làm ba chương cùng với lời mở đầu và lời kết.

46. Nội Quy này đã được Đấng bản quyền giáo phận  Vinh phê chuẩn để áp dụng tại Tiền chủng viện Xã Đoài. Khi cần sửa đổi bổ sung, Ban Giám đốc tiền chủng viện họp và soạn thảo, trình Đức Giám mục giáo phận phê chuẩn./.

 

Xã Đoài, ngày 15 tháng 9 năm 2013


[1] Dựa theo Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Đào tạo linh mục – định hướng và chỉ dẫn, Nxb Tôn giáo, số 223-245.